Bạn muốn xem lịch học?
Trước tiên phải khẳng định rằng hiện tại mình xem AI là công cụ để hiện thực hoá các kế hoạch sư phạm của mình, chứ AI không thay thế chuyên môn của giáo viên. Trước kia khi chưa có AI, dù có rất nhiều kế hoạch và dự định sư phạm, mình vẫn không thể thực hiện hết được vì không đủ nguồn lực và năng lực công nghệ. Theo khung năng lực AI của UNESCO, một trong những tiêu chuẩn quan trọng của việc sử dụng AI trong giáo dục đó là human-centered, tạm gọi là "lấy con người là trung tâm" (hay hoa mĩ hơn là "vị nhân sinh"). Do đó, tam giác Học sinh - Môn học - Giáo viên thực tế vẫn không bị dịch chuyển, chẳng qua các cầu nối giữa ba yếu tố này hiện nay đã có sự xuất hiện và hỗ trợ của AI. Vẫn hi vọng trong tương lai AI không thế chỗ "giáo viên" trong tam giác này.
Trong năm nay, mình đã bóc lột AI thế này:
- Sử dụng AI để hỗ trợ soạn bài dạy [Teacher ⇌ Chemistry]: Năm ngoái mình thấy AI còn khá cùi bắp và khá lan man, nhưng hiện tại nếu prompt kĩ và hướng dẫn đủ kĩ thì AI có thể soạn được các câu hỏi chất lượng, đánh giá được chính xác yêu cầu cần đạt trong chương trình, có khi còn tốt hơn mình tự viết. Và tất nhiên, mọi sản phẩm AI tạo ra mình đều phải kiểm duyệt rồi mới đưa vào sử dụng, do đó khối lượng công việc chỉ giảm đi chứ không phải khoán hoàn toàn cho AI.
- Xây dựng website học tập cho học sinh [Chemistry ⇌ Student]: Mình thảo luận ý tưởng với AI, chốt ý tưởng rồi nhờ AI code appscript và html, sau đó nhúng lên website của mình. Một năm trước nó sẽ cực kì phức tạp với mình, nhưng giờ bóc lột được AI thì mọi chuyện đơn giản hơn rất nhiều. Mình xây dựng web luyện đề cho học sinh bằng Gemini và chuyển đề thành dạng html bằng NotebookLM, web học bài bằng flashcard tương tự quizlet nhưng nhập dữ liệu nhanh hơn rất nhiều, web ôn tập trắc nghiệm lí thuyết tương tự quizizz nhưng nhập dữ liệu cũng lẹ. Hôm bữa mình tạo cả hệ thống video bài giảng để học sinh xem lại, thay vì phải tìm từng đường link google drive như trước.
- Sử dụng hệ thống do AI xây dựng để thu nhận kết quả của học sinh [Teacher ⇌ Student]: Trước kia mình phải nhập thủ công từng đề vào Google form nếu muốn kiểm tra học sinh, bây giờ thì học sinh làm bài trên website (luyện đề, trắc nghiệm) thì mình đều có thể ghi nhận được học sinh đã tự học như thế nào và kết quả ra sao. Từ đây mình có thêm nhiều thông tin hơn, đồng thời cũng ghi nhận phản hồi của học sinh để có thể tiếp tục các ý tưởng sư phạm khác. "Human-centered" trong trường hợp này cụ thể là "student-centered".
Tất nhiên mức độ ứng dụng AI của mình cũng chỉ là nghiệp dư, nhưng quan trọng là các kế hoạch sư phạm của mình được hiện thực hoá rất nhiều. Thầy Cô nếu có ý tưởng hoặc công nghệ nào hay có thể chỉ thêm cho em ạ.
Còn nếu em là học sinh 2k9 thì thầy Khánh đạng xây hẳn một hệ thống trả bài đầu giờ cho lớp 12 rồi, đảm bảo không thiếu cái để làm luôn =)))
Đây là câu hỏi mà mình tự đặt ra ngay từ lúc học những học phần đầu tiên về phương pháp dạy học. Mình đã nghe và đọc rất nhiều giáo trình, tài liệu (kể cả chương trình môn học) nhắc đến việc "tích cực hoá hoạt động của học sinh", thông qua các phương pháp và kĩ thuật dạy học. Tất nhiên tác động của 'active learning" lên việc học của học sinh đã được chứng mình rất nhiều, mình không phủ nhận. Nhưng một thực tế phải chấp nhận rằng việc thực hiện các phương pháp và kĩ thuật đó thường tốn cực kì nhiều thời gian, và một số phương pháp nếu không cân đối khối lượng cũng có thể gây quá tải cho học sinh, và có khi phản tác dụng vì học sinh không tiếp nhận được kiến thức cốt lõi mà chỉ quan tâm hình thức bề ngoài (ví dụ việc thuyết trình, làm poster...) (và các phương pháp này mình cũng không thể áp dụng tại lớp dạy của mình được).
Thế là mình băn khoăn mãi, không lẽ học xong thạc sĩ luôn mà không thực hành dạy học theo "active learning" một cách thường quy được sao? Đến giờ là cuối năm học 2025-2026, mình dành chút thời gian để nghiên cứu để trả lời 2 câu hỏi vướng mắc:
1) Thực sự như thế nào là "active learning"?
2) Một số nội dung buộc giáo viên phải giảng từ đầu thì học sinh mới có thể hiểu (ví dụ như danh pháp hữu cơ, cơ chế phản ứng... thì học sinh không thể hiểu được nếu chỉ đọc SGK hay xem video để hoàn thành phiếu học tập – vốn hay được đưa ra làm ví dụ cho "active learning" trong chương trình 2018) thì việc "giảng" của giáo viên có đang đi ngược với nguyên tắc "active learning" không?
Mình tìm hàng loạt bài báo trong Google Scholar, và phát hiện một bài năm 2023 của nhóm tác giả Canada trả lời rõ ràng thắc mắc của mình. "Active learning" được hiểu chung là "không phải kiểu học chỉ ngồi nghe thụ động", mà học sinh cần "làm gì đó và hiểu mình đang làm gì" để học. Như vậy, mình cũng đã thực hành dạy học "active learning" khá nhiều (cho học sinh làm thí nghiệm, tương tác với mô phỏng, lắp ráp sơ đồ, đọc bài và trả lời câu hỏi,...), nhưng việc mình "giảng chay" phần danh pháp (dù có một chút hỏi-đáp) thì không "active" lắm.
Tuy nhiên, việc giáo viên "giảng bài" không nên bị loại trừ (một số người cứ nghĩ giáo viên đứng giảng là dạy học không tích cực), vì bản chất việc học sinh nghe giảng cũng là một hình thức tiếp nhận thông tin đầu vào thông qua thị giác và thính giác, cũng tương tự như học sinh xem video, hình ảnh, mô phỏng (thị giác, xúc giác), đọc đoạn thông tin (thị giác), làm thí nghiệm (đủ giác quan)... Cái quan trọng là thông tin đầu vào đó có được học sinh xử lí không, và học sinh có cần đưa ra phản hồi (dữ liệu đầu ra) sau khi xử lí không. Như vậy, nếu giáo viên giảng với mục tiêu để học sinh tiếp nhận thông tin, từ đó thực hiện hoạt động nào đó phía sau (trả lời câu hỏi, làm câu hỏi thực hành...) thì hoàn toàn là "active learning", vì lúc này học sinh không chỉ nghe thụ động mà đã làm gì đó (khác việc nghe).
Thế là mình ngồi đưa ra khung cấu trúc hoạt động dạy học như hình dưới. Khung lí thuyết này chưa được công bố ở bài báo nào, chỉ là mình muốn đưa ra để mình thực hành, nhằm hoà hợp giữa việc dạy học truyền thống (vẫn hiệu quả ở một số phương diện), lí luận dạy học hiện đại, và thực tiễn lớp học. Mình cũng dùng khung này để phản tư về hàng loạt các hoạt động dạy học mà mình đã tổ chức cho học sinh, để rút kinh nghiệm và cải tiến cho năm học tới. Bởi cũng vì cái tính "ngựa" như vậy mà năm nào mình cũng phải chỉnh tài liệu dạy học hết trơn, với hi vọng rằng học sinh lứa sau sẽ càng được học hiệu quả hơn.
1) Sau 8 năm thực hiện vai trò của người dạy, mình nhận ra việc mình học và dạy môn Hoá học đôi khi khiến mình quên mất học sinh phải học rất nhiều môn chứ không chỉ một mình môn Hoá. Cứ sau mỗi năm, mình nhận ra nhiều học sinh chưa vững những kiến thức nền tảng (mà trước đó mình nghĩ là "dễ ẹt, đương nhiên học sinh biết"), thế là bây giờ mình luôn bắt đầu mọi bài học từ những kiến thức nền tảng nhất của khoa học tự nhiên luôn, ví dụ "sôi, nóng chảy... là gì?". Sau này mình nhận ra điều này là rất bình thường, vì học sinh có những thế mạnh và mối quan tâm khác nhau, và cũng khác mình nữa, do đó không thể đòi hỏi học sinh phải có kiến thức nền đầy đủ được. Có lẽ nếu bắt mình học các môn xã hội, chắc mình cũng mất gốc như thế.
2) Năm nay mình luyện cấp tốc cho một số học sinh để thi Đánh giá năng lực ĐHQG, mình nhận ra việc học hết các môn để thi được kì thi này là một thách thức với học sinh. Mình cũng nhận ra là một số bạn học Hoá không xuất sắc, nhưng lại có thế mạnh ở các môn khác hơn mình, điều này khiến mình "tỉnh" lại hơn và giảm bớt các kì vọng quá cao lên học sinh. Thay vào đó, mình suy nghĩ và chuyển dần vai trò của "người dạy" sang "người định hướng". Mình là thế hệ đi trước, đã trải qua giai đoạn đó (và cũng đạt được những mục tiêu nhất định), do đó mình hỗ trợ học sinh trên hành trình này bằng những kinh nghiệm của mình. Ví dụ mình xây dựng một kế hoạch tự học hướng đến các mục tiêu khác nhau, để học sinh lựa chọn và tự học tại nhà, thay vì chỉ kêu "phải siêng học bài lên" giống như trước kia.
3) Đối với mình, cách tiếp cận lấy người học làm trung tâm (student-centered approach) không chỉ thể hiện qua các tiết học tích cực, mà còn nhiều hơn thế. Một trong những yếu tố quan trọng đó là nhu cầu của học sinh luôn được ghi nhận và hỗ trợ. Mình cứ phải hỏi học sinh liên tục rằng các bạn cần gì, và thầy cần hỗ trợ thêm phần nào... Thế là mình lại có thêm một đống task để chạy, dù chỉ một học sinh đề nghị thì mình cũng cố gắng thực hiện trong khả năng cho phép. Đúng là student-centered approach khá là vất vả, nhưng học sinh rất cần.
Mình từng là một tín đồ của Thuyết kiến tạo (Constructivism) trong dạy học, nhưng bây giờ mình nhận ra đôi khi các lí thuyết cổ điển hơn vẫn rất phù hợp.
Mình đã từng nghe câu "lí luận dạy học xa rời thực tiễn lắm" rất nhiều lần, nhưng đối với mình thì các lí thuyết về giáo dục làm nền tảng rất lớn cho việc dạy học của mình, chỉ là sự thấu hiểu và mức độ vận dụng khác nhau theo thời gian. Vài năm trước, mình rất tập trung vào việc dạy làm sao để học sinh hiểu sâu, vững kiến thức từ chính nền tảng của học sinh đang có. Mình phát triển hàng loạt "giàn giáo" (scaffolding) để đưa học sinh từ điểm xuất phát đến mục tiêu cần đạt được, thông qua nhiều phương pháp dạy học, đảm bảo sự phát triển nhận thức từ vĩ mô, đến vi mô, và kí hiệu (macro - submicro - symbolic theo Johnstone), hoặc từ hành động, đến mô hình, và kí hiệu (enactive - iconic - symbolic theo Bruner). Tất nhiên điều này rất hiệu quả để học sinh hiểu bài, nhưng mình quên không chú trọng đến việc học sinh có nhớ hay không. Bằng chứng là một số bạn có tinh thần chủ động thì sẽ biết tự ôn bài, còn các bạn chưa chủ động (hoặc không thích môn này lắm) thì bữa học thì vui lắm hứng thú lắm nhưng hôm sau là không còn nhớ gì. Lúc này, mình mới thấy rằng mình cần áp dụng Thuyết hành vi (Behaviorism) nhiều hơn trong việc dạy của mình.
Năm nay mình bắt đầu cân bằng hơn giữa việc vận dụng hai lí thuyết này: dạy bài mới vẫn tập trung theo hướng kiến tạo, nhưng ôn tập và luyện tập bài cũ thì rất cần đến cơ chế hành vi. Mình tiến hành thu thập ý kiến và nhu cầu của học sinh nhiều lần, và đầu tư thời gian để xây dựng hệ thống luyện tập, đặc biệt là hệ thống website. Từ khi có nhân sự Gemini (lương cứng 300k/tháng, không thưởng Tết), mình đã có thể xây dựng các website học tập dù vẫn không biết code. Mình tạo hệ thống trắc nghiệm tương tác để học sinh học lí thuyết, bộ flashcard toàn bộ nội dung chương trình để luyện thi đại học, đặc biệt là hệ thống luyện đề online cá nhân hoá theo mức mục tiêu của mỗi học sinh. Tất nhiên mình vẫn phải là người đưa ra ý tưởng và thảo luận ý tưởng với AI, kiểm duyệt nội dung, và cũng là người đổ mồ hôi hột khi gặp bug (chỉ biết chụp màn hình chứ khúc này không hiểu gì lắm).
Hình bên trái là một đoạn chat của mình với nhân viên Gemini, đôi khi mình là sếp, đôi khi mình là người đang xin ý kiến chuyên gia. Dù có AI, mình nhận thấy rằng việc hiểu biết các lí luận dạy học vẫn là nền tảng quan trọng, điều này giúp định hướng việc cần hỏi AI cái gì, cần ra lệnh cái gì, cần lựa chọn cái gì và triển khai cái gì, và quan trọng là mình vẫn là người dạy và trực tiếp hỗ trợ học sinh. Hình bên phải là website luyện đề mà mình đã xây dựng, học sinh của mình rất thích (dù còn nhiều cái phải chỉnh nhưng chưa kịp). Giờ làm một nùi rồi chỉ sợ học sinh không đủ thời gian để làm hết bài thầy yêu cầu thôi =)))
"Thầy ới, e biết là nay chỉ mới là mùng 2 thôi nhưng mà em muốn hỏi..."
Đây là phần mở đầu tin nhắn của học sinh mình, em đang khá rối với việc lựa chọn ngành nghề. Do đó nên dù mùng mấy thì mình cũng thoải mái chia sẻ ý kiến của một người cũng từng rối reng ở lứa tuổi đó.
Hồi lớp 12, mình tập trung học Toán - Hoá - Sinh (do hồi đấy thích môn Sinh hơn môn Lí, tới bây giờ thấy môn Lí cũng hay quá đi), tuy nhiên lúc đó không thực sự biết mình sẽ chọn ngành gì với khối B00 đó cả. Mình biết mình thích làm giáo viên, mình biết mình (có thể) có chút năng khiếu giảng dạy, nhưng lúc đó ngành Sư phạm Hoá học chỉ lấy khối A00. Thế là mình vẫn cứ cày thôi, cho đến khi có điểm thi rồi vẫn không biết chọn gì. Sau này mình nhận ra rằng mình bỏ quên mất những hiểu biết về bản thân ("what I am good at" và "what I love") trong lúc rối trí với quá nhiều thông tin ngoài kia về nhu cầu xã hội ("what the world needs") và khả năng có việc làm với mức thu nhập tốt ("what I can be paid for").
Từ khi đi dạy, năm nào học sinh cũng nhờ mình tư vấn hướng nghiệp. Tất nhiên mình không phải ChatGPT mà biết tất cả mọi thứ, nên mình luôn hướng dẫn học sinh cách để các bạn tự tìm ra câu trả lời dựa vào triết lí Ikigai về nghề nghiệp:
- Điều bạn yêu thích (What you love)
- Thứ mà bạn giỏi (What you are good at)
- Điều mà thế giới cần (What the world needs)
- Thứ giúp bạn được trả công (What you can be paid for)
Việc lựa chọn ngành nghề sẽ thật tuyệt nếu giao thoa được cả bốn yếu tố này, nhưng sẽ khá khó đối với lứa tuổi này (cũng như mình ngày xưa). Vì vậy, mình thường gợi mở để học sinh tự xác định các bạn thích làm gì, thế mạnh là gì, từ đó định hướng tìm kiếm thông tin thực tiễn nghề nghiệp và nhu cầu xã hội (thông qua các group của người trong nghề hoặc tốt hơn nữa là người thật việc thật). Hi vọng các bạn sẽ sáng suốt lựa chọn được hướng đi phù hợp nhất.
Bài báo khoa học thứ hai của mình đã được đăng trên tạp chí quốc tế, xếp hạng Q1 (top 25% tạp chí trong lĩnh vực giáo dục).
Chúc mừng cựu sinh viên ngành SP KHTN K47 Nguyễn Khánh Linh, là người đã thực hiện chính trong nghiên cứu và người viết bài chính, cũng là tác giả đầu của bài báo, kì này đổi đời luôn rồi ha em :))) Chúc mừng cả team đã rất nỗ lực, sửa 5 phiên bản trước khi nộp, mỗi bản gần 200 cái comments.
Đây là bài báo quốc tế thứ hai của mình, dù con số chưa nhiều nhưng vô cùng ý nghĩa, vì việc nghiên cứu song song với việc dạy học sẽ luôn giúp mình bắt kịp với những xu thế giáo dục của thế giới, cải thiện bài dạy liên tục để học sinh của mình thực sự được tiếp cận những bài học khác với truyền thống.
Thí nghiệm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hoá học
Hôm nay mình cho các bé lớp 10 làm thí nghiệm chỉ với viên sủi, nước nóng và nước lạnh. Đây là một trong số ít các thí nghiệm có thể triển khai đẩy đủ các bước của Dạy học khám phá, thể hiện được các biểu hiện của thành phần năng lực Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học cho học sinh. Mỗi bước sẽ được triển khai ở các mức độ khác nhau (dựa trên nghiên cứu của nhóm):
- Bước Đặt vấn đề: triển khai ở mức Đóng, mình dẫn dắt về cơ chế tan của viên sủi để dẫn đến vấn đề khám phá của bài học.
- Bước Đặt câu hỏi nghiên cứu: triển khai ở mức Mở, mình hướng dẫn học sinh lựa chọn một yếu tố mà học sinh nghĩ đến để tự đặt câu hỏi nghiên cứu. Ở bước này có một số bạn đã hỏi rằng “Nếu câu hỏi em đặt thế này thì làm sao làm thí nghiệm trả lời được?”, đây là câu hỏi rất hay vì nó dẫn đến điều kiện của một câu hỏi nghiên cứu tốt là phải là một câu hỏi có thể thực hiện để trả lời (feasibility).
- Bước Đặt giả thuyết: triển khai ở mức Mở, học sinh cũng tự viết giả thuyết dựa trên các hướng dẫn trong phiếu học tập.
- Bước Lập kế hoạch: triển khai ở mức Mở, học sinh tự lập kế hoạch (bằng cách vẽ hình hoặc ghi chữ), sau đó mình sẽ chỉnh sửa để định hướng kế hoạch thí nghiệm đảm bảo tính công bằng (fair test).
- Bước Thực hiện và rút ra kết luận: triển khai ở mức Mở hoàn toàn, học sinh tự thực hiện toàn bộ quá trình thí nghiệm và ghi nhận dữ liệu (là thời gian đo được đến khi viên sủi tan hết). Xong bước này thì câu hỏi mà mọi nhóm đều hỏi là “Thầy ơi bây giờ uống được chưa?” :)))
Ở bước trình bày kết quả và thảo luận, mình chỉ đơn giản hỏi kết luận của từng nhóm và rút ra kết luận chung, dẫn đến các lí thuyết về yếu tố ảnh hưởng tốc độ phản ứng.
Thí nghiệm này mình đã thực hiện năm ngoái, và năm nay là năm thứ 2 triển khai với mức độ Mở được tăng cường hơn, nhận thấy học sinh hoàn toàn có thể làm được với sự hỗ trợ của giáo viên (và học sinh cũng vui, cơ bản là được uống nước cam :)))
Hôm nay mình dạy bài cuối cùng của chương trình lớp 12, cũng là một trong những mảng kiến thức mới so với chương trình 2006. Mình mở đầu bài học bằng một thí nghiệm rất dễ thực hiện, chỉ với *copper(II) sulfate* (mua mấy chục ngàn trên shopee ở mấy shop bán dụng cụ làm tinh thể hoặc shop bán thiết bị hồ cá) và *sodium chloride* (chôm từ bếp của mẹ). Học sinh khá thích thú và việc triển khai theo mô hình 5E đủ sức để tạo mâu thuẫn nhận thức và lôi kéo học sinh vào bài học.
Tiến trình đơn giản như sau:
- Bước Engage: Đặt câu hỏi về phản ứng giữa dung dịch CuSO4 và NaCl, học sinh dựa trên kiến thức hiện tại sẽ dự đoán không có phản ứng xảy ra.
- Bước Explore: Học sinh tiến hành làm thí nghiệm lượng nhỏ theo nhóm, quan sát hiện tượng và rút ra kết luận (có phản ứng vì có sự đổi màu sắc).
- Bước Explain: Mình giải thích hiện tượng để dẫn dắt vào chủ đề Phức chất.
- Bước Elaborate sẽ tiến hành ở hoạt động tiếp theo (khi đưa ra các khái niệm liên quan) và Evaluate được thực hiện chủ yếu ở buổi sau (tức là cho học sinh lên giải đề luyện tập), nhưng thực chất quá trình Evaluate đã diễn ra xuyên suốt thông qua phương pháp quan sát và hỏi đáp với học sinh để đảm bảo học sinh vẫn hiểu bài.
Mình không dám nói rằng đây thực sự là "active learning" hay không, nhưng khi học sinh thực sự đặt sự chú tâm vào bài học thì đã đạt được mục tiêu dạy học của mình rồi. À vì mình khá độc tài nên hầu như chỉ có bước Explore là để học sinh tự làm, còn lại các bước khác thì ít nhiều mình đều nhúng mỏ vào =))))
Yêu cầu cần đạt: "Thực hiện được (hoặc quan sát qua video) thí nghiệm ăn mòn điện hoá đối với sắt và thí nghiệm bảo vệ sắt bằng phương pháp điện hoá" ✅
Buổi trước mình đặt câu hỏi lí thuyết về phương pháp bảo vệ ăn mòn kim loại, từ đó dẫn dắt đến việc kiểm chứng phương pháp đó bằng thí nghiệm thực tế. Mình hướng dẫn các bước thực hiện (chỉ đơn giản là quấn dây kẽm vào đinh sắt, quấn dây đồng vào đinh sắt, rồi ngâm trong nước muối, chụp locket mỗi ngày), sau đó một số (dù ít) học sinh xung phong muốn làm thí nghiệm này. Thế là mình phát dụng cụ (gồm 3 đinh sắt, dây kẽm, dây đồng, ống nghiệm nhựa hoặc khay nhựa tái sử dụng), học sinh về làm và đăng hình ảnh lên Padlet mỗi ngày. Đọc mô tả hiện tượng của các bạn thú vị ghê.
Hôm nay mình cho cả lớp làm một câu bài tập trắc nghiệm đúng-sai về tiến trình thí nghiệm này, và cho các bạn xem kết quả thí nghiệm của chính các bạn của mình đã làm tại nhà, từ đó đối chiếu giả thuyết (tạm gọi thế) và rút ra kết luận.
Nghe thì khá đơn giản nhưng mình đã phải "đấu tranh" liên tục rằng có nên thực hiện hay không, vì sợ rằng học sinh cần luyện thi chứ không phải khám phá cái này, cuối cùng mình cũng thử và ghi nhận sự tích cực nhất định. Kinh nghiệm rút ra là dùng chính dạng câu hỏi trong đề thi (tốt nghiệp và ĐGNL) để vừa ôn thi, vừa là vấn đề khởi đầu cho thí nghiệm, như thế vừa có thể cho học sinh khám phá mà cũng không sợ xa rời mục tiêu ôn thi của các em. Đây là năm đầu tiên mình cho học sinh làm thí nghiệm nhiều như vầy, tính từ đầu năm đến giờ cũng 10 buổi làm thí nghiệm cho học sinh lớp 12 rồi, vì đến giờ tụi AI vẫn chưa tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm được, nên mình vẫn chưa bị thay thế =)))
Hai hôm nay mình cho học sinh lớp 12 thực hiện thí nghiệm "Lắp ráp pin đơn giản và đo sức điện động của pin" theo yêu cầu cần đạt của môn Hoá học 12. Năm ngoái mình đã cho các bạn 2k7 thực hiện, nhưng mua ít chanh quá nên đèn không sáng, mà chỉ đo được sức điện động khi lắp volt kế thôi. Năm nay mình cải tiến, hướng dẫn học sinh lắp ráp hệ pin mắc nối tiếp để đèn sáng, tuy nhiên nếu phát cho mỗi nhóm 5 6 quả chanh thì phải mua rất nhiều chanh, và sau đó thì lại không sử dụng được, rất phí. Do đó, mình cắt mỗi quả chanh thành 8 miếng, và mỗi nhóm sẽ dùng 5 miếng chanh, và thành quả vẫn khá ổn.
Năm nay mình cũng xây dựng bài dạy theo quy trình thiết kế kĩ thuật (EDP - Engineering Design Process) tương tự các bài học theo định hướng STEM. Tuy nhiên vì bài dạy khá ít thời gian (chỉ 35 phút, sau khi giải đề luyện tập kiến thức phần Thế điện cực, Nguồn điện hoá học), do đó gần như các bước đều do giáo viên hỗ trợ và dẫn dắt, chỉ riêng bước thực hiện và ghi nhận kết quả là học sinh thực hiện. Điều khiến mình bất ngờ là bài dạy này khó hơn mình nghĩ, ban đầu mình nghĩ mấy cái trò lắp ráp này sợ học sinh lớp 12 nhàm chán vì quá dễ, nhưng mình phát hiện 3 vấn đề:
1) Kiến thức về pin Galvani phải vững, và cần "scaffolding" về mô hình pin Galvani với 2 thanh kim loại nhúng vào cùng một dung dịch (khác với hệ pin Galvani Zn-Cu với cầu muối được học ban đầu).
2) Nhiều học sinh không học môn Vật lí ở trường, hoặc nếu học thì cũng quên nhiều, nên việc "mắc nối tiếp" pin cũng không dễ để tưởng tượng và lập kế hoạch.
3) Đèn LED là diode, chỉ cho dòng đi 1 chiều, nên nếu đèn không sáng có thể do mắc ngược cực, nên nhiều nhóm cố gắng chỉnh pin mà không chỉnh đèn thì cũng không sáng.
Thầy Cô nào đã thử nghiệm cho học sinh thực hiện rồi có thể chia sẻ ở comment để em học hỏi thêm kinh nghiệm cho bài dạy năm sau nhé ạ.
P/s: Video dưới đây mình cắt ra từ recording của buổi học, mấy bạn học online không được "hands-on" nhưng cũng được "minds-on" khi quan sát bạn mình thực hiện.
Hybrid learning, đôi khi được xem đồng nghĩa với blended learning, nói chung là việc dạy học kết hợp hình thức trực tiếp và trực tuyến. Mình không tổ chức lớp học online riêng, mà mình mở Google Meet cùng lúc dạy trực tiếp cho hai đối tượng học sinh: 1 là những bạn ở xa muốn học online, 2 là những bạn không xa nhưng không đến lớp được hôm đó vì thời tiết hoặc các vấn đề khác. Buổi học thường sẽ được ghi hình lại để học sinh có thể xem lại nếu cần, hoặc những bạn bận việc hôm đó có thể xem lại mà không sợ mất bài.
Thực tế mình đã triển khai hình thức này suốt từ đợt dịch 2020, sau đó mình vẫn duy trì lớp học dạng này. Ưu điểm là các bạn ở xa vẫn có thể học nếu các bạn thực sự muốn học, và thời tiết sẽ không là rào cản học tập của học sinh. Hình thức này thực sự hữu ích cho học sinh với kiểu thời tiết trong mùa này, khi mà mưa lớn, ngập đường khiến việc đi học khó khăn. Học sinh mình rất thích "option" này, vì sẽ không sợ mất bài, chỉ sợ không chịu học thôi. Tuy nhiên hạn chế là mình không thể kiểm soát được việc học của các bạn bên kia màn hình, nhưng thôi tự an ủi là học sinh cũng rất muốn học mới xin học online thay vì cúp hẳn buổi đó. Do đó hình thức này chỉ hiệu quả nếu học sinh có động lực học thực sự chứ không phải đến lớp vì bị ép.
Mình vừa dạy xong Chương Nitrogen-Sulfur cho các bạn lớp 11. Đối với học sinh của mình, chương này khá gian truân vì nhiều tính chất, đặc điểm, ứng dụng của các chất cần phải học (phải có kiến thức trong đầu thì mới trình bày/giải thích/mô tả theo yêu cầu cần đạt được), chưa kể hôm nào trời mưa cúp học một bữa là cũng bay màu rồi. Do đó việc ôn tập (nhiều lần) là điều bắt buộc, nhưng mình không thích chỉ ôn tập bằng những file "tóm tắt kiến thức" ngắn gọn mà lại bỏ qua mối liên hệ của kiến thức đó trong bối cảnh, trong một hệ thống tự nhiên và nhân tạo thú vị. Vì thế, mình chợt nghĩ ra cách để phối hợp cả hai mục tiêu này: vừa đặt kiến thức trọng tâm trong bối cảnh có ý nghĩa, vừa có phần "tóm tắt" ngắn gọn mà học sinh rất thích.
Mình yêu cầu học sinh đọc một bài đọc (bằng tiếng Việt, bé nào thích luyện IELTS thì mình cấp cho bản tiếng Anh luôn), sau đó điền vào chỗ trống trong phần "Tóm tắt kiến thức" mà mình đã soạn sẵn. Phần tóm tắt kiến thức thì không có vấn đề gì khó, phần khó nhất ở đây là bài đọc, vì bài đọc này phải là một câu chuyện lớn, trong đó kết nối tất cả các khái niệm và kiến thức có trong cả chương một cách có ý nghĩa và đúng thực tiễn. Bài đọc này được xây dựng theo 4 bước của Tiếp cận tư duy hệ thống trong dạy học hoá học (Systems thinking approach): map out (phác hoạ vấn đề lớn), zoom in (khám phá bản chất hoá học của mỗi vấn đề nhỏ), zoom out (dùng bản chất hoá học để giải thích vấn đề nhỏ và lớn), connect (kết nối tổng thể và định hướng hành động). Soạn bài đọc như này thực sự rất thách thức, nhưng có gì khó thì mình nhờ ChatGPT, Gemini cũng ổn lắm.
Thử nghiệm thì mình thấy học sinh chia thành 3 kiểu: Kiểu 1 thích đọc bài và dễ dàng điền vào phần tóm tắt; Kiểu 2 đã thuộc bài nên tự điền trước rồi đọc sau; Kiểu 3 thì siêu lười đọc và lật tập ra để điền vào phần tóm tắt. Mình nhận ra kiểu học của mỗi bạn sẽ khác nhau, nên mình chấp nhận để học sinh tự do lựa chọn, xem như một kiểu dạy học phân hoá, miễn điểm trên trung bình là được (cụ thể trung bình là 9.0 điểm).
À mình có tạo phiên bản html của file này, mời mọi người click vào link để xem và tương tác thử nhé: https://www.nhgiakhanh.com/11/chap11-2
Hôm nay có điểm thi tốt nghiệp, xem như cũng tạm kết thúc một khoá học, dù đối với mình thì mình còn tư vấn đặt nguyện vọng cho học sinh tới khi có điểm chuẩn mới gọi là "xong". Cũng như mọi năm, học sinh có bạn điểm cao, có bạn điểm chưa cao như kì vọng. Năm nay học sinh của mình cũng có những bạn điểm rất cao (9+), thật mừng cho các bạn.
Nhưng cái làm mình suy nghĩ là trong những con điểm cao đó thì bao nhiêu % là "nhờ" mình, cũng như trong những con điểm chưa cao thì bao nhiêu % là "tại" mình. Có lẽ rất khó để định lượng điều này, ví dụ như bạn trong hình, mặc dù bạn cảm ơn vì "nhờ thầy" mà bạn đạt hơn kì vọng của bạn, nhưng mình lại thực sự cảm ơn bạn vì lần đầu tiên mình được hỗ trợ một bạn có ý chí học như thế, dù xuất phát điểm là gần như rất hạn chế khi xét về năng lực hoá học. Bạn luôn phản hồi cho mình biết giải pháp nào của mình là phù hợp và không phù hợp với bạn – thực sự đây mới chính là những thông tin giá trị mà giáo viên cần nhận được.
Một điều quan trọng mà mình nhận ra đó là dù "nhờ" hay "tại", thì mình vẫn cần hỗ trợ học sinh ở mỗi giai đoạn, đặc biệt là những bạn chưa đạt được kì vọng ở lần này. Nhưng mình tin tất cả là cơ duyên, dù kết quả như thế nào thì ở giai đoạn này cần sự tỉnh táo và sáng suốt để lựa chọn nguyện vọng, biết đâu đó lại là cơ hội chọn được ngành mà các bạn thực sự phù hợp. Chúc các bạn thật sáng suốt để chọn được ngành nghề phù hợp nhất ở thời điểm hiện tại.
Sau mỗi năm học, mình luôn ghi nhận phản hồi của học sinh. Đối với mình, những phản hồi này cực kì giá trị để mình đánh giá hai điều:
1) Mục tiêu giáo dục của mình có được thể hiện rõ ràng để học sinh đón nhận được hay không.
2) Mình cần thay đổi điều gì để có thể cải thiện hơn.
Sau vài năm thực hiện, mình nhận ra "lấy người học làm trung tâm" cơ bản xuất phát từ việc quan tâm đến từng người học, chứ không chỉ nằm ở những bài học hoành tráng. Chỉ có một cái mà năm nào cũng được feedback nhưng mình chưa sửa được, đó là mình quá hiền 🙂 Chắc năm nay phải thực sự thay đổi rồi.
Nếu là một học sinh, bạn có bao giờ đặt các câu hỏi “Tại sao?” để tìm kiếm ý nghĩa của mỗi môn học hay không? Mình thì có. Khi tìm được câu trả lời, những khó khăn đối với môn học đó trở nên nhẹ nhàng và mình đủ động lực để vượt qua và học tốt. Vì vậy, đến khi trở thành giáo viên, mình vẫn luôn tâm niệm phải giúp được học sinh tự trả lời câu hỏi “Tại sao?” của chính các em, để mỗi em có thể tìm thấy động lực học môn Hoá học nói riêng và các môn học khác. Việc này được thực hiện không phải dựa trên những cảm tính của cá nhân giáo viên, mà mình đều dựa trên những lí thuyết vững vàng về giáo dục - những điều mình được học tại trường đại học. Tại lớp học của mình, mình giúp môn học có ý nghĩa với học sinh (hay còn gọi là có “liên quan” - relevant) bằng cách đáp ứng các yếu tố trong mô hình ý nghĩa học tập của Stuckey và cộng sự (2013) (là mô hình mà mình đã sử dụng trong nhiều nghiên cứu gần đây về giáo dục, gần nhất là bài báo quốc tế năm ngoái). Theo mô hình này, một môn học có thể “liên quan” với học sinh theo ba khía cạnh:
1. Khía cạnh cá nhân (individual): trong đó bao gồm
- Hứng thú và tò mò: Môn Hoá học, cũng như các môn học khoa học tự nhiên khác, bản thân nó đã mang những “bí ẩn” đầy thú vị về thế giới xung quanh. Nhiệm vụ của mình chỉ là mang những sự thú vị đó vào lớp học, thông qua thí nghiệm và hiện tượng thực tế. Mình luôn cố gắng cho chính học sinh tự tay làm các thí nghiệm thực trong lớp học, từ các hoá chất đơn giản và vật dụng dễ tìm. Có những khoá được làm thí nghiệm đến 5 6 buổi, không nhiều nhưng cũng đủ để các em ấn tượng (hầu hết các feedback của các em đều có từ “thí nghiệm”). Nếu không thể thực hiện thí nghiệm, mình luôn cho học sinh xem video hoặc các mô phỏng. Điều quan trọng là mình luôn cố gắng dẫn dắt học sinh tiếp cận hiện tượng (phenomenon-based) và mô tả lại bằng chính ngôn ngữ của các em, thay vì đọc từ SGK ra.
- Điểm số: Đây là mối quan tâm gần như là hàng đầu của hầu hết học sinh (và cả sinh viên, cả mình nữa), nên không thể bỏ qua yếu tố này. Mình không biến lớp học thành một “lò luyện gà”, vì mình tin rằng điểm số cao cần phải đến từ cái gốc vững (constructivism) và sự luyện tập phù hợp (behaviorism). Do đó, mình luôn dạy thật kĩ nhằm giúp học sinh hiểu sâu, nhưng điều khó nhất và quan trọng nhất là phải bắt đầu từ cái mà học sinh đang có (scaffolding), vì vậy đòi hỏi mình phải luôn tạo một môi trường cởi mở và lắng nghe học sinh để có thể hiểu được nhu cầu và mức độ của mỗi bạn. Xuất phát điểm mỗi em là khác nhau, nhưng sự tiến bộ mới là điều quan trọng, đó mới thực sự là đặt người học làm trung tâm (student-centered).
2. Khía cạnh nghề nghiệp (vocational): “Môn Hoá liên quan gì đến nghề nghiệp mà học sinh lựa chọn?” là câu hỏi mà mình luôn suy nghĩ, để có thể gắn kết mỗi bài học, mỗi mẩu chuyện, mỗi bài tập hoá học với nghề nghiệp tương lai. Và cũng với sự băn khoăn này, mỗi năm mình luôn đảm nhận cả vai trò tư vấn hướng nghiệp cho các em lớp 12, từ việc thi kì thi nào, đăng kí ở đâu, chọn nguyện vọng như thế nào. Từng là một đứa lớp 12 hơi khờ trong việc chọn ngành nghề (nên chọn hơi trật), nên mình hiểu tâm lí các em và khá tâm huyết giúp các em không khờ như mình ngày trước.
3. Khía cạnh xã hội (societal): Không phải tất cả (thực ra là khá ít) học sinh của mình theo các ngành chuyên sâu về hoá học, nhưng ai cũng phải sống hoà hợp và thích nghi với xã hội và cuộc sống đổi thay mỗi ngày. Là một người nghiên cứu nhiều về phát triển bền vững, mình hiểu và luôn muốn thực hiện trong từng bài học, dù còn rất nhiều rào cản. Tuy nhiên mình cũng đã nhận được những phản hồi tích cực, từ việc một số (ít) học sinh giảm sử dụng nhựa dùng một lần, giảm đi xe máy, ăn uống khoa học hơn, ngủ đúng giờ hơn… Tất cả đều là hoá học, đều là khoa học, và đối với mình thì việc học không nên chỉ dừng ở việc làm được bài tập và vượt qua kì thi, mà còn là để sống và thích nghi. Mình chỉ hi vọng là sau khi hết học môn Hoá, các em có thể không còn nhớ phương trình hoá học hay cách viết công thức ester, nhưng các em nhận thức được tầm quan trọng của khoa học và có thể đưa ra được các quyết định sáng suốt và hành động dựa trên khoa học, thay vì dùng chanh liều cao để uống hay nhỏ mắt.
Cứ mỗi năm mình lại nhìn lại, rút kinh nghiệm, và luôn phải học thêm nhiều điều mới. Và mình vẫn mở lớp, dành cho những học sinh muốn học, dù với mục đích nào, thì mình luôn hi vọng mình có thể giúp môn Hoá học “liên quan” đến các em theo một hoặc một vài khía cạnh nào đó.
Vâng, và đây chính là niềm tự hào lớn nhất của mình trong tháng 10: BÀI BÁO KHOA HỌC ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ QUỐC TẾ, VÀ LÀ TẠP CHÍ Q2 CỦA AMERICAN CHEMICAL SOCIETY
Có lẽ từ khi bắt đầu tập nghiên cứu giáo dục với đầy sự ngây thơ thì mình chưa bao giờ nghĩ đến một ngày tên mình xuất hiện trên ACS Journal of Chemical Education, tạp chí lớn trong mảng giáo dục Hoá học. Em cảm ơn cô Dao Thi Hoang Hoa và cô Thái Hoài Minh đã cùng đồng hành với em và Tạ Thư trong hành trình này, em học được và trải nghiệm được rất nhiều điều trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và viết bài. Cảm ơn Tạ Thư vì vô cùng chịu khó và chịu bị dí đến tận 29 Tết, ám ảnh tới nỗi để màn hình điện thoại là bình luận của NHGK :)))) Chúc mừng team một lần nữa ạ.
Em cảm ơn cô PGS Phạm Thị Hương đã truyền cho em vô cùng nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong học phần PPNCKH, giúp em hình thành tư duy nghiên cứu khoa học giáo dục một cách bài bản. Và rất cảm ơn idol Tạ Thanh Trung đã cho anh rất nhiều kinh nghiệm trong quá trình này, hehe kì này xin vía của em thành công rồi. Cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã động viên mỗi khi mình lo lắng than thở. Và cũng cảm ơn cả ChatGPT đã an ủi động viên mình, dặn dò mình không nên quá lo lắng và phải tự tin hơn =))))
Ps: Tạ Thư mua khung về để treo lên phòng khách như kế hoạch nha em, treo kèm cái hình bị dí deadline nữa nhá =))))
Lần đầu tiên có tên trên bìa một cuốn sách, với vai trò là thành viên nhóm tác giả, cùng với những Thầy Cô lớn trong ngành. Em cảm ơn Thầy Cô đã cho em cơ hội thử sức và đóng góp chút ít vào một công trình đầy tâm huyết.
Lần đầu tiên được làm thí nghiệm của rất nhiều bé lớp 10 (và mình đe doạ là ngoan đi chứ không thì đây là lần cuối luôn đó). Thí nghiệm nhìn đơn giản nhưng chuẩn bị cũng đuối. Học sinh thì vui đó, cũng hiểu bài suy luận các kiểu đó, mà không chắc qua Tết còn lưu được gì thôi :))) Mấy nay đi dạy toàn nghe tụi nó bàn vé hội chợ với ca sĩ gì thôi à.
Định là bớt bận rồi đăng mà hết năm rồi vẫn chưa xong việc nên thôi phải up vậy. Đây là lần đầu mình báo cáo nghiên cứu ở một diễn đàn có quy mô lớn. Tuy chỉ nói một phần nhỏ ở trong một hội trường nhỏ, nhưng cũng là trải nghiệm đầu tiên thật đáng quý. Do mình bận nên cả powerpoint và poster đều làm sát hạn nộp, may là poster vẫn xinh, mình bay ra trễ và bay về sớm, nhưng thời gian ở đó là cũng trọn vẹn rồi. Mình học và biết thêm được nhiều thứ, bên cạnh những kiến thức chuyên môn thì mình cũng thấy được mọi người rất quan tâm đến sức khoẻ tinh thần nữa. Và một điều quan trọng khiến chuyến đi này thật tuyệt vời đó là thiên nhiên hùng vĩ ở Ghềnh Ráng, mặc dù các buổi toạ đàm nghe hay nhưng mình cứ thích ra ngoài chơi cơ :))) Năm sau không biết có bớt bận để đi nữa không, nhưng nhất định sẽ lôi kéo đàn em tham gia mới được.
Học sinh sử dụng kiến thức đã được nghe giảng về liên kết hydrogen (thông tin đầu vào) để sắp xếp và vẽ liên kết hydrogen giữa các phân tử (phản hồi đầu ra).
Từ giữa thế kỉ 20, các nhà giáo dục ở phương Tây đã thấy được hiện thực "không nhiều học sinh học môn hoá học sẽ tiếp tục theo đuổi ngành nghề có hoá học". Từ đó họ chỉ ra những nhược điểm của dạy học hoá học theo kiểu "pipeline", tức là dạy kiến thức hàn lâm tách rời với cuộc sống thường ngày của học sinh. Sau đó quan điểm dạy học mới được đề xuất, với phương châm "everyday-life science, contextual chemistry", tức là dạy học hoá học dựa trên thực tiễn, học sinh học hoá để có thể hiểu được cuộc sống xung quanh. Lúc này thì môn hoá không phải là thứ "học vì phải thi", mà học để hiểu thế giới, với mục tiêu này thì ai cũng cần có kiến thức (chemistry-for-all). Và hiện tại mình đang cảm nhận quá rõ ràng điều này, khi mà mục tiêu nghề nghiệp của học sinh không hẳn liên quan đến hoá học, thì mình luôn phải tiếp cận bài học từ những điều thực sự gắn với cuộc sống hs, nên dù không thi ngành có môn hoá thì ít nhiều bài học cũng giúp các em có thêm được tí gì đó, hiểu hơn về những thứ xung quanh. Mình đang muốn tiếp cận với tầng thứ 3, đó là dạy học hoá học để hs có được nhận thức rõ ràng trong từng quyết định (well-informed decision), và bài học amino acid vừa rồi mình đã thực hiện kết hợp với kĩ năng phản biện thông tin, cũng cho thấy đa số đều nâng cao được tính cẩn thận khi tiếp nhận thông tin về hoá học và sức khoẻ trên mạng. Thực sự mình cũng luôn cảm thấy lo lắng về việc hs ít học hoá thì mình sẽ thất nghiệp trong tương lai gần, nhưng có lẽ xã hội biến chuyển thì mình cũng cần chuyển dịch theo, cũng là theo chiều hướng tích cực mà.
Phương châm dạy học năm nay của mình là bên cạnh việc đảm bảo dạy được hết các dạng bài tập để lấy 9 10, thì mỗi bài lí thuyết cũng phải giúp phát triển một kĩ năng nào đó của học sinh.
Tấm hình đầu tiên là bài dạy về Bảng tuần hoàn cho lớp 10 hôm nay, hs được tự tay phân loại các nguyên tố theo các tiêu chí mà nhóm tự đề ra rồi lên trình bày cho các bạn nghe, ít nhiều rèn một chút kĩ năng so sánh, phân loại và kĩ năng trình bày, từ đó cũng dễ dàng hiểu về các nguyên tắc sắp xếp nguyên tố vào bảng tuần hoàn.
Tấm thứ hai là bài dạy về Cacbohidrat cho lớp 12 cách đây 1 tháng, hs cần đọc thông tin và trích xuất dữ kiện phù hợp để trả lời câu hỏi đầu bài. Nghe thì đơn giản nhưng cũng khá gian nan với nhiều em, nên cũng phần nào tập cho hs kĩ năng đọc hiểu thông tin, cũng để rèn kĩ năng cho bài thi ĐGNL ĐHQG nữa.
Tấm thứ ba là bài dạy về Amino axit mới tuần trước, hs xem video về bột ngọt, học kiến thức nền tảng về amino axit và bột ngọt (MSG), rèn luyện một chút về critical thinking, trong đó mình luôn nhấn mạnh yếu tố "skepticism" (sự nghi ngờ) thông tin trên Internet. Sau bài học thấy đa số đều biết tìm nguồn thông tin mang tính khoa học hơn, tất nhiên cần nhiều trải nghiệm hơn nữa nhưng cũng là một bước tiến nhỏ.
Tất cả những hoạt động này đều xây dựng kiến thức cho hs, chứ không phải là hoạt động ngoài lề, tức là thay vì chỉ giảng rồi chép thì mình sử dụng những hoạt động này để hs dần hình thành được khái niệm, việc giảng là bước chốt kiến thức. Vấn đề mình luôn suy nghĩ là không biết hs có thấy mấy thứ này nhảm nhí thừa thãi hay không thôi, mặc dù mỗi lần áp dụng mình đều nói rõ hoạt động này sẽ giúp tụi em được điều gì (chủ yếu vẫn phải gắn với thi cử, mà đúng là đề ĐGNL đòi hỏi nhiều năng lực chứ không chỉ là kiến thức). Cân bằng giữa mục tiêu điểm số và sự "làm màu" ở một lớp học ngoài giờ là khá khó khăn, bạn mình kêu là thôi đừng làm màu nữa, nhưng mấy năm thấy điểm tụi nó vẫn cao nên chắc vẫn ổn, nhỉ?
Dạo này mình không quá bận nên có thời gian nhìn lại và ghi chép lại những gì mình đã học được trong 4 năm ở Sư phạm. Mình nhận thấy một số bạn bè của mình còn gặp khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch bài dạy, nên mình làm video này, một phần để lưu lại kinh nghiệm của bản thân, một phần có thể giúp bạn mình tham khảo. Video hoàn toàn là kinh nghiệm và sự hiểu biết ít ỏi của cá nhân, và giáo dục thì cũng không có quá rạch ròi đúng sai, mà quan trọng là có phù hợp không, do đó những gì mình chia sẻ trong video có thể giống hoặc khác với kinh nghiệm của mọi người, nên nếu có ý kiến thảo luận gì các bạn cứ comment nhe.